Máy chà tường không bụi thực tế có hiệu quả???

Trên thị trường hiện tại có rất nhiều máy chà tường được quảng cáo là không bụi, nhưng có thực sự hiểu quả???

Đây là thiết bị xây dựng được rất nhiều người sử dụng. Một trong những sản phẩm vô cùng quan trọng giúp bạn làm việc nhanh hơn. Tuy nhiên, có rất nhiều quảng cáo rằng máy chà tường không bụi vậy liệu điều này có chính xác??? Mặt hạn chế về cấu tạo của máy chà nhám tường thông thường như sau:

  • Không có máy hút bụi.( sử dụng túi chứa bụi )

  • Cấu trúc đĩa mài ít lỗ ( 5 – 8 lỗ )

  • Sử dụng giấy nhám có rất ít lỗ thoát bụi và bị bám rất nhanh.

Những vấn đề trên được Mirka của Phần Lan giải quyết rất hiệu quả.

SỰ KẾT HỢP HOÀN HẢO CỦA MÁY VÀ NHÁM LƯỚI CHỐNG XƯỚC CỦA MIRKA .

Sau nhiều năm phát triển và tập trung vào sự tiện lợi và thân thiện với người dùng. Mirka đã sản xuất ra máy chà tường không bụi thế hệ mới Mirka Leros. Với nhiều tính năng nổi trội mà không sản phẩm nào của hãng khác có được. Máy chà tường nhẹ nhất, mô tơ  không chổi than và mặt bàn chà linh hoạt có thể xoay đến 180 độ.

Đầu chà nhám linh hoạt 180 °


Đầu chà nhám linh hoạt cho phép công cụ dễ dàng theo dõi chuyển động và cho phép người vận hành sử dụng vị trí làm việc tiện dụng.
Đầu linh hoạt cũng giúp người vận hành tiếp cận bề mặt từ các góc khác nhau.

Chuyển động quỹ đạo ngẫu nhiên 5mm

Chuyển động quỹ đạo ngẫu nhiên cho chà nhám được nhanh hơn và ít tốn sức giữ máy khi hoạt động. Do đó việc chà sẽ ít bị gián đoạn do mệt mỏi và ít bị lỗi tường hơn.

Đế mài máy chà tường có nhiều lỗ cho phép chà nhám bụi không bụi hiệu quả với tấm đệm có nhiều lỗ hút bụi phù hợp với giấy chà nhám lưới chà tường Abranet. Từ đó giấy nhám sẽ chống bị bám bụi tốt tăng độ bền của giấy nhám tiết kiệm được tiền và môi trường sạch sẽ hơn.

 

Máy chà tường không bụi Mirka LEROS 950CV là loại máy chà tường và trần nhẹ nhất trên thị trường. Nhờ vào trọng lượng nhẹ, người vận hành có thể chà xả trong thời gian dài hơn ít bị mỏi mệt hơn và môi trường làm việc không bị bụi bảo vệ sức khỏe .

Sự kết hợp máy chà tường Mirka® LEROS 950CV với giấy nhám lưới chà tường không bụi của Mirka và hệ thống hút bụi thích hợp để tạo ra bề mặt tường mịn đẹp và môi trường làm việc chuyên nghiệp.

Môi trường làm việc không bụi và chuyên nghiệp

Video máy chà tường không bui thế hệ mới Mirka Leros 950CV.

Khử mùi sơn cho nhà mới

Các loại sơn tường hiện nay, cả loại có chất lượng lẫn kém chất lượng đều gây mùi khó chịu trong vài ngày đầu tiên khi sơn lên tường.

Có rất nhiều cách để khử mùi sơn trên tường như dùng giấm, hành tây, mở thoáng cửa, bật quạt hoặc tránh tiếp với những nơi vừa sơn.

PGS.TS Ngô Quang Viên, chủ nhiệm khoa Xây dựng, Đại học xây dựng khẳng định: Đã là sơn thì tất có mùi, bất kể là sơn xịn hay kém chất lượng. Mùi khó chịu này tồn tại trong khoảng 5 – 7 ngày đầu tiên khi sơn lên tường.

Xịn” hay kém chất lượng đều có mùi

ThS Trịnh Minh Đạt, Viện Vật liệu xây dựng giải thích, sơn tường là loại sơn tan trong nước đa phần sử dụng trang trí và bảo vệ bề mặt các công trình xây dựng. Hầu hết sơn tường hiện đang sử dụng phổ biến là loại sơn nhũ tương nước. Chúng đều có mùi bởi màng sơn được tạo thành từ một hoặc vài loại polyme khác nhau. Mùi của sơn gây ra là do mùi của polyme.

Theo PGS.TS Ngô Quốc Quyền, Viện Hóa học, Viện KH&CN Việt Nam, bản thân các loại polyme không gây độc. Song, người ta phải sử dụng các loại dung môi để hòa tan polyme. Chính những loại dung môi (dạng lỏng) này là tác nhân gây ra những mùi khó chịu. Khi tiếp xúc với những loại dung môi ở nồng độ cao, người dân có thể bị các bệnh về đường hô hấp hoặc gây dị ứng.

Các chuyên gia cho biết, hiện ở Việt Nam chưa có đánh giá tác động của sơn tường tới môi trường và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người. Song, người sử dụng có thể yên tâm bởi các hãng sản xuất sơn đều có những đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Điều đáng lo ngại là những loại sơn kém chất lượng trôi nổi ngoài thị trường, không đảm bảo độ an toàn. Hơn thế, ngay cả khi không gây ra tác hại nào cho cơ thể, thì việc “bốc mùi” của sơn trong 6 – 7 ngày đầu tiên cũng làm người sử dụng cảm thấy khó chịu, thậm chí không ít người cảm thấy buồn nôn khi hít phải mùi hắc, nồng nồng do sơn tường gây ra.

Mở thoáng cửa, tránh tiếp xúc

Trong dân gian có rất nhiều mẹo khắc phục mùi sơn như lấy giấm ăn đổ vào bát để khắp nơi trong nhà, lấy hành tây cắt mỏng trải khắp nhà, pha nhiều chậu nước muối đặc, đặt 10m2/chậu.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Quyền, các cách này không đảm bảo hiệu quả tuyệt đối. Với những công trình mới xây, cách tốt nhất là chờ sơn bay hết mùi (khoảng 5 – 7 ngày sau khi sơn) mới dọn đến nhà ở. Đối với những ngôi nhà cũ, việc “lánh nạn” là điều khó thực hiện. PGS.TS Viên cho biết, đối với những “trường hợp bất khả kháng này” phải mở hết các cửa và bật quạt để thông gió, giúp mùi bay ra khỏi căn hộ. “Vệc sử dụng giấm, hành tây chỉ là cách mùi khử mùi, mùi sơn hết thì lại nồng nặc mùi hành, mùi giấm. Thông gió là cách tốt nhất”, PGS.TS Viên nói.

Một vài lời khuyên thực hiện sơn tường

Các chuyên gia khuyên trước khi sơn cần di chuyển hoặc che phủ tất cả đồ đạc và sàn nhà, dùng đá mài hoặc giấy ráp thô đánh nhẫn phẳng và sạch các bề mặt cần sơn, cất gọn các công tắc điện rời và che kín ổ cắm ở trên tường. Khi mua sơn, nên chọn những loại sơn phù hợp với ngôi nhà…

 

Sơn gồm 4 thành phần chính

Chất tạo màng: Là vật liệu tạo màng liên tục kết dính với nền làm cho bề mặt nền được bao phủ, kết nối với nhau và kết nối với các chất khác có trong thành phần để tạo ra màng có độ rắn chắc thỏa đáng.

Cấu tử bay hơi: Là chất lỏng (nước hoặc dung môi hữu cơ) hòa tan chất tạo màng tạo ra môi trường lỏng đủ để tạo màng và bay hơi trong và sau khi tạo màng.

Bột màu: Là những hạt rắn, mịn không hòa tan và phân tán đều trong chất tạo màng và còn lại trong màng phủ sau khi tạo màng. Bột màu tạo độ đục, cải thiện tính năng của màng phủ.

Phụ gia: Là những vật liệu để biến đổi những đặc tính của màng phủ. Phụ gia và bột màu có tác dụng làm thay đổi độ nhớt, chống mốc, bám bẩn…

Thế nào là công nghệ sơn tĩnh điện?

Công nghệ sơn tĩnh điện là công nghệ hiện đại được phát minh bởi TS. Erwin Gemmer vào đầu thập niên 1950. Qua nhiều cải tiến bởi các nhà khoa học, các nhà sản xuất chế tạo về thiết bị và bột sơn đã giúp cho công nghệ sơn tĩnh điện ngày càng hoàn chỉnh về chất lượng và mẫu mã tốt hơn.

Có 2 loại công nghệ sơn tĩnh điện:
– Công nghệ sơn tĩnh điện khô (sơn bột): Ứng dụng để sơn các sản phẩm bằng kim loại: sắt thép, nhôm, inox…
– Công nghệ sơn tĩnh điện ướt (sử dụng dung môi): Ứng dụng để sơn các sản phẩm bằng kim loại, nhựa gỗ,…

Mỗi công nghệ đều có những ưu khuyết điểm khác nhau:
– Đối với công nghệ sơn tĩnh điện ướt thì có khả năng sơn được trên nhiều loại vật liệu hơn, nhưng lượng dung môi không bám vào vật sơn sẽ không thu hồi được để tái sử dụng, gây ô nhiễm môi trường do lượng dung môi dư, chi phí sơn cao.
– Đối với công nghệ sơn khô chỉ sơn được các loại vật liệu bằng kim loại, nhưng bột sơn không bám vào vật sơn sẽ được thu hồi (trên 95%) để tái sử dụng, chi phí sơn thấp, ít gây ô nhiễm môi trường.

Dây chuyền thiết bị sơn tĩnh điện dạng bột có thiết bị chính là súng phun và bộ điều khiển tự động, các thiết bị khác như buồng phun sơn và thu hồi bột sơn; buồng sấy khô bằng tia hồng ngoại tuyến (chế độ hấp điều chỉnh nhiệt độ và định giờ tự động tắt mở), máy nén khí, máy tách ẩm khí nén, các bồn chứa hóa chất để xử lý bề mặt trước khi sơn được chế tạo bằng vật liệu composite.

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SƠN TĨNH ĐIỆN:

– Xử lý bề mặt: Vật sơn phải được xử lý bề mặt trước khi sơn qua các bước sau: Tẩy dầu, Rửa nước chảy tràn, Tẩy gỉ, Rửa nước chảy tràn, Định hình, Phosphat kẽm, Rửa nước.
– Sấy khô: Sấy khô vật sơn sau khi xử lý bề mặt.
– Phun sơn: Áp dụng hiệu ứng tĩnh trong quá trình phun sơn có bộ điều khiển trên súng, có thể điều chỉnh lượng bột phun ra hoặc điều chỉnh chế độ phun sơn theo hình dáng vật sơn.
– Sấy sơn: Vật sơn sau khi sơn được đưa vào buồng sấy, tùy theo chủng loại thông số kỹ thuật của bột sơn mà đặt chế độ sấy tự động thích hợp (nhiệt độ sấy 150oC – 200oC, thời gian sấy 10 – 15 phút).
– Cuối cùng là khâu kiểm tra, đóng gói thành phẩm.
Do trong qui trình xử lý bề mặt tốt, qui trình phosphat kẽm bám chắc lên bề mặt kim loại, nên sản phẩm sau khi sơn tĩnh điện có khả năng chống ăn mòn cao dưới tác động của môi trường.
Màu sắc của sản phẩm sơn tĩnh điện rất đa dạng và phong phú như sơn bóng hay nhám sần, vân búa hay nhũ bạc… Vì vậy, sản phẩm sơn tĩnh điện có thể đáp ứng cho nhu cầu trong nhiều lĩnh vực có độ bền và thẩm mỹ cao, đặc biệt là đối với các mặt hàng dân dụng, trang trí nội thất, thiết bị dụng cụ trong ngành giáo dục, y tế, xây dựng, điện lực,…

THẾ NÀO LÀ BỘT SƠN TĨNH ĐIỆN?

Bột sơn tĩnh điện là nguyên liệu dùng trong công nghệ sơn tĩnh điện, bao gồm 3 thành phần chính là nhựa, bột màu và chất phụ gia.
Phân loại: Bột sơn tĩnh điện hiện nay gồm 4 loại phổ biến: Bóng (Gloss), Mờ (Matt), Cát (Texture), nhăn (Wrinkle) sử dụng cho hai điều kiện trong nhà và ngoài trời.
Điều kiện bảo quản: rất an toàn vì không sợ cháy nổ do nó là dạng bột khô không chứa dung môi và không tốn nhiều chi phí, chỉ cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau là chúng ta có thể bảo quản bột sơn an toàn và hiệu quả nhất: – Để nơi khô ráo, thoáng mát – Nhiệt độ bảo quản dưới 33C (rất phù hợp với thời tiết và khí hậu của Việt Nam) – Chỉ nên chất lên cao tối đa là 5 lớp.

THẾ NÀO LÀ CÔNG NGHỆ SƠN TĨNH ĐIỆN?

Hầu hết các nhà khoa học trên thế giới đều công nhận rằng: hiếm có một công nghệ hiện đại nào được phát minh và đưa vào sử dụng phục vụ sản xuất, thay thế cho công nghệ cũ mà cho chất lượng cao, vừa hạ giá thành sản phẩm nhưng chi phí đầu tư lúc ban đầu lại như công nghệ cũ – đó là Sơn Tĩnh Điện. Sơn tĩnh điện còn được gọi là sơn khô vì tính chất phủ ở dạng bột của nó và khi sử dụng nó sẽ được tích một điện tích (+) khi đi qua một thiết bị được gọi là súng sơn tĩnh điện, đồng thời vật sơn cũng sẽ được tích một điện tích (-) để tạo ra hiệu ứng bám dính giữa bột sơn và vật sơn. Sơn Tĩnh Điện là công nghệ không những cho ta những ưu điểm về kinh tế mà còn đáp ứng được về vấn đề môi trường cho hiện tại và tương lai vì tính chất không có chất dung môi của nó. Do đó về vấn đề ô nhiễm môi trường trong không khí và trong nước hoàn toàn không có như ở sơn nước.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH BỘT SƠN TĨNH ĐIỆN:

Nguyên lý phủ sơn bằng hợp chất hữu cơ dạng bột được gia nhiệt và phủ lên bề mặt kim loại được nghiên cứu và đưa vào áp dụng thử tại Châu Âu bởi nhà khoa học Tiến sĩ Dr. Erwin Gemmer vào đầu thập niên 1950, nhưng mãi đến khoảng năm 1964 thì qui trình Sơn Tĩnh Điện mới thành công và được thương mại hóa rồi được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Qua nhiều thập niên được đóng góp, cải tiến bởi các nhà khoa học và các nhà sản xuất về cách chế biến bột sơn đã giúp cho công nghệ Sơn Tĩnh Điện ngày càng hoàn chỉnh về chất lượng và mẫu mã tốt hơn .

1966 – 1973 Bốn loại hóa học khởi điểm – Epoxy, Hybrid, Polyurethane và TGIC – được giới thiệu trên thị trường. Một vài loại Melamine và Acrylic vẫn chưa thành công. Đầu thập niên 1970 Sơn Tĩnh Điện phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu.
Đầu thập niên 1980 Phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ và Nhật.
Giữa thập niên 1980 Phát triển nhanh và được sử dụng rộng rãi ở Viễn Đông (thềm Lục Địa Thái Bình Dương).
1985 – 1993 Những loại bột sơn mới được giới thiệu trên thị trường, có đủ loại Acrylic và hỗn hợp của những loại bột sơn được tung ra.

LỢI ĐIỂM CỦA CÔNG NGHỆ SƠN TĨNH ĐIỆN:

– Về kinh tế: – 99% sơn được sử dụng triệt để (bột sơn dư trong quá trình phun sơn được thu hồi để sử dụng lại) – Không cần sơn lót – Làm sạch dễ dàng những khu vực bị ảnh hưởng khi phun sơn hay do phun sơn không đạt yêu cầu – Tiết kiệm thời gian hoàn thành sản phẩm
– Về đặc tính sử dụng: – Quy trình sơn có thể được thực hiện tự động hóa dễ dàng (dùng hệ thống phun sơn bằng súng tự động) – Dễ dàng vệ sinh khi bột sơn bám lên người thực hiện thao tác hoặc các thiết bị khác mà không cần dùng bất cứ loại dung môi nào như đối với sơn nước.
– Về chất lượng: – Tuổi thọ thành phẩm lâu dài – Độ bóng cao – Không bị ăn mòn bởi hóa chất hoặc bị ảnh hưởng của tác nhân hóa học hay thời tiết – Màu sắc phong phú và có độ chính xác…

ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ SƠN TĨNH ĐIỆN:

Hiện nay công nghệ sơn tĩnh điện được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều ngành công nghiệp như: công nghiệp hàng hải, công nghiệp hàng không, công nghiệp chế tạo xe hơi và xe gắn máy,… đến các lĩnh vực như sơn trang trí, xây dựng công nghiệp, xây dựng dân dụng, …

Quy trình sơn phủ bề mặt vật liệu

Áp dụng đối với công việc sơn dùng cho sơn các loại, kể cả sơn dạng bột và quy định những yêu cầu chung về an toàn khi chuẩn bị và tiến hành sơn.

1. Quy định chung
Quá trình sơn phải đảm bảo an toàn trong tất cả các khâu sau:
– Chuẩn bị bề mặt của vật được sơn bao gồm: cạo gỉ, tẩy lớp sơn cũ, khử dầu mỡ và bồi đắp những chỗ bị gỉ ăn mòn;
– Phun quét các loại vật liệu sơn kể cả việc chuẩn bị pha chế sơn, cọ rửa làm sạch các thùng lường, thùng chứa, các thiết bị sản xuất, các dụng cụ và phương tiện bảo vệ;
– Sấy khô màng sơn và làm chảy sơn bột để tạo màng;
– Gia công bề mặt màng sơn (mài, đánh bóng).
Khi tiến hành công việc sơn phải loại trừ khả năng cháy, nổ trên các thiết bị công nghệ (buồng sơn, máy móc, dụng cụ), trong các gian sản xuất, ở bãi sơn ngoài gian sản xuất, đồng thời phải loại trừ hoặc làm giảm các yếu tố nguy hiểm và có hại trong trong sản xuất giới hạn cho phép. Cụ thể:
– Ồn, rung và siêu âm phát sinh trong quá trình chuẩn bị bề mặt vật được sơn cũng như khi thiết bị thông gió hoạt động;
– Bụi và khí trong không khí;
– Nhiệt độ của sơn, của dung môI rửa và khử dầu mỡ, của hơi và khí, của các phần trên thiết bị và vật được sơn;
– Độ ẩm, nhiệt độ và sự lưu chuyển của không khí ở chỗ tiến hành sơn, trong phân xưởng sơn, buồng sơn;
– Những phần dẫn điện không được bảo vệ trên thiết bị chuẩn bị bề mặt, thiết bị sơn điện và sơn điện di động, thiết bị sấy;
– Sự ion hoá không khí ở khu vực sơn điện;
– Cường độ điện trường và điện tích tĩnh điện phát sinh khi tiến hành sơn trong điện trường tĩnh điện, khi chuyển sơn theo đường ống, khi khuấy, rót và phun sơn;
– Các bức xạ tử ngoại, hồng ngoại, alta, bêta, gama, rơn ghen phát sinh khi thiết bị sơn điện hoạt động;
– Chuyển động của máy và những bộ phận chuyển động của thiết bị sơn không đ|ợc bảo vệ, cũng nh| sự di chuyển của vật được sơn;
– Thành phần độc hại trong các loại sơn và những thành phẩm khác ảnh hưởng đến sức khoẻ con ng|ời;
– Các tia sơn xì ra do thiết bị sơn bằng áp lực bị hở.

 

Quy trình sơn phủ bề mặt vật liệu

2. Yêu cầu đối với quá trình công nghệ

2.1.Công việc sơn cần được tiến hành trong các phân xưởng sơn, buồng sơn, trong các thiết bị chuyên dùng hoặc ở bãi sơn, ở đó phải có các thiết bị thông gió (hết chung và hết cục bộ) và các phương tiện phòng chống cháy. Tại các thiết bị sơn, buồng sơn phải có biện pháp cách li không cho các chất độc hại trong sơn toả ra môi trường chung quanh. – Hệ thống thông gió hết cục bộ tại buồng sơn, bãi sơn (phun sơn bột), trên thiết bị mài bóng bề mặt màng sơn (mài khô) phải có thiết bị lắng để không làm tắc đ|ờng ống dẫn gió, đồng thời phải có khoá liên động để đảm bảo sao cho chỉ phun ra khi thiết bị thông gió đã hoạt động. – Khi tiến hành sơn phía trong các ngăn, mặt trong tàu thuỷ, toa xe, máy bay các vật được sơn có dung tích lớn, phải có thiết bị thông gió cục bộ. – Đối với những vật lớn có thể tiến hành sơn trực tiếp tại chỗ lắp ráp mà ở đó không có thiết bị thông gió chuyên dùng, phải thực hiện các yêu cầu sau: a. Khi tiến hành sơn phải ngừng các hoạt động khác ở chung quanh; b. Dùng thiết bị thông gió chung để làm thoáng buồng sơn; c. Sử dụng dụng cụ và ph|ơng tiện bảo vệ đường hô hấp cho thợ sơn; d. Có biện pháp phòng chống cháy nổ. 2.2.Khi thiết kể phân xưởng mới, cải tạo phân xưởng cũ, cờ khí hoá và tự động hoá quy trình công nghệ sơn phải loại trừ hoặc làm giảm tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất. 2.3.Khi nghiên cứu và thực hiện các quy trình công nghệ sơn, phải có biện pháp hoà, thu góp sơn và các hoá chất vương vãi, đồng thời phải có biện pháp xử lí nước nhiễm độc và bụi khí trước khi thải ra ngoài. 2.4.Khi cung cấp nguyên vật liệu (dung dịch khử dầu mỡ, dung dịch rửa, các loại sơn) không khí nén, nhiệt năng, điện năng tới các bộ phận của thiết bị sơn cố định, trang bị các ph|ơng tiện bảo vệ cần thiết cho công nhân. Đối với thiết bị công nghệ có dung tích lớn hơn l m3, phải có bộ phận xả chất lỏng khi xảy ra sự cố. Khi sử dụng những loại sơn có chất phóng xạ, phải tiến hành theo đúng các quy định về vệ sinh và an toàn đã ban hành.

3. Yêu cầu đối với các buồng sơn trong phân xưởng và các khu vực sơn

3.1. Các phân xưởng sơn, khu vực sơn, các phòng phụ phải theo đúng các quy định về xây dựng và vệ sinh đã ban hành.

3.2. Nhiệt độ, độ ẩm tương đối, tốc độ lưu chuyển của không khí trong phạm vi làm việc của buồng sơn, phân xưởng sơn không được vượt quá giới hạn quy định.

3.3. Nếu vì yêu cầu công nghệ, bộ phận sơn phải đi theo dây chuyền công nghệ thì công việc sơn có thể bố trí trong gian sản xuất chung, những với điều kiện bộ phận sơn đó phải che chắn, đặt thiết bị thông gió hết, đồng thời các công việc trong gian sản xuất chung đó không có nguy cơ nổ, cháy. – Khi sử dụng các loại sơn lỏng, nếu sơn đó có khả năng hình thành hỗn hợp cháy nổ thì vùng bán kính 5m tính từ chỗ bố trí thiết bị sơn kín và các thùng chứa vật liệu sơn đ|ợc coi là vùng có nguy cơ cháy nổ. – Khi dùng sơn lỏng để sơn những vật có kích thước lớn trên các bãi sơn, phải tiến hành đảo ngăn và bố trí thiết bị hết bụi sơn, không khí bẩn ra khỏi vùng làm việc. Vùng có bán kính 5m tính từ mép bàn sơn, và cao 5m tính từ vật được sơn phải coi là vùng có nguy cơ cháy nổ.

3.4. Nếu trong buồng của phân xưởng sản xuất có các thiết bị khi làm việc phát sinh ra bụi (bộ phận chuyên bột sơn mài khô, đánh bóng) với giới hạn bốc cháy là 65g/m3 hoặc thấp hơn thì toàn bộ phân xưởng đó đ|ợc coi là phân xưởng sản xuất có nguy cơ cháy nổ. Nếu bộ phận phát sinh ra bụi được cách li với phân xưởng sản xuất chung bằng các vách ngăn bụi với giới hạn chịu lửa là 0,75 giờ thì chỉ có bộ phận cách li là bộ phận sản xuất có nguy cơ cháy nổ, riêng những buồng còn lại được coi là an toàn.Các buồng trong phân xưởng sơn, khu vực sơn, kho, chỗ xếp đặt những vật chuẩn bị sơn, bãi sơn phải đ|ợc trang bị các ph|ơng tiện phòng chống cháy theo quy định.

Sơn ngoại thất và gam màu đang lên ngôi

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu đến các bạn những tiêu chí lựa chọn màu sơn ngoại thất đẹp và gam màu “hot” nhất hiện nay… Màu sơn có ý nghĩa rất lớn trong việc trang trí mặt tiền cho căn nhà của bạn. Bạn có thể dễ dàng chọn màu cho căn phòng riêng của mình nhưng khi phải đưa ra quyết định màu sắc cho “bộ mặt” của gia đình thì lại gặp không ít những băn khoăn.

Ngôi nhà sẽ không hoàn hảo nếu thiếu đi màu sắc bên ngoài

Ngoại thất vừa phải có phần tương thích với những ngôi nhà lân cận, lại vừa thể hiện cá tính riêng của gia chủ. Vì thế mà chọn màu sơn cho ngoại thất thật không dễ dàng chút nào đúng không?

Những lưu ý không thể bỏ qua khi chọn màu sơn ngoại thất

Để chọn được cho ngôi nhà thân yêu một “chiếc áo” có màu sắc phù hợp, trước hết bạn cần đưa ra được tông màu chủ đạo của ngôi nhà. Màu chủ đạo nên căn cứ vào mệnh của gia chủ khi bạn là người quan tâm đến phong thủy. Khi chọn màu nên dựa trên phong thủy, nơi ở và những ngôi nhà xung quanh.

Màu sắc chọn theo phong thủy nghĩa là cần đạt được sự cân bằng trong âm dương để tạo ra sự hài hòa. Âm là sắc tối, yên tĩnh, hấp thu màu; dương là sắc sáng, chuyển động và phản ánh màu.
Người mệnh hỏa nên chọn những tông màu nóng, người mệnh thủy hợp với màu xanh tràm hay màu xám, màu xanh lá cây dành cho những người mệnh mộc, màu ghi sáng, vàng lục hay trắng hợp với những người mệnh kim còn người mệnh thổ hợp với màu nâu hay màu vàng đất. Căn cứ vào thuyết ngũ hành, màu sắc được sử dụng để tăng cường những yếu tố thuận lợi và hạn chế những mặt hại.

Cũng có thể căn cứ vào vị trí của ngôi nhà mà lựa ra tông màu phù hợp nhất. Nơi thành phố ồn ào, náo nhiệt nên chọn màu sắc hiện đại, trẻ trung ví như màu vàng nhạt, xanh,… Ở những vùng ngoại ô yên tĩnh thì những màu như nâu, đỏ tía – những màu của tự nhiên sẽ hợp hơn.

Thứ hai chính là sự hài hòa trong màu sắc của nhà bạn với những căn nhà xung quanh. Bỏ một chút thời gian để đi ngắm khu phố của mình cũng sẽ giúp bạn tìm ra màu sơn ưng ý…
Lựa chọn một màu sắc theo ý thích nhưng cũng không quá lạc lõng với những ngôi nhà lân cận là điều mà bạn nên lưu ý. Sẽ thật là phản cảm nếu như các căn nhà hàng xóm đều nhất loạt có tông màu trầm nhưng bạn lại đi sơn màu cam chói lóa hay màu xanh nõn chuối bởi có thể lúc ấy ngôi nhà bạn sẽ trở nên nổi bật nhưng nó cũng khiến ngôi nhà lạc điệu và thiếu đi sự hài hòa…
Đừng vì “chơi trội” mà khiến ngôi nhà bạn trở nên lạc lõng bạn nhé!

Thứ ba, màu ngoại thất là sự tổng hợp của màu cửa, mái ngói, màu tường. Những màu sắc này cần có sự hài hòa, bổ trợ lẫn nhau. Nếu màu ngói là màu xanh dương hay xanh lá cây đậm thì hãy sơn màu lạnh cho bức tường nhà. Màu hồng nhạt, vàng chanh hay nâu be sẽ hợp với màu ngói đỏ hoặc nâu.

Không nên tạo ra sự xung đột về màu sắc khi chọn màu cho mặt tiền. Cũng gi